Không cần bạn TIN mà BIẾT Inner Space

Inner Space không là một tôn giáo

Tất cả các khóa học tại Inner Space mang mục đích giúp bạn biết về bản thân, cải thiện các mối quan hệ và môi trường xung quanh bạn. Inner Space không thuyết phục bạn phải TIN mà hãy tự BIẾT cho chính bạn qua quá trình học. Lẽ dĩ nhiên, biết cần thời gian và được tinh chỉnh theo thời gian.

Do vậy, Inner Space sẽ không thích hợp cho người bệnh tâm thần, mất nhận thức và trầm cảm nặng. Hiểu mục đích đến học của bạn và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn của bạn. Gia đình cũng hãy hiểu mục đích của Inner Space và tự chịu trách nhiệm khi mang người bệnh hay trẻ nhỏ đến.

Inner Space sẽ yêu cầu bạn rời khỏi trung tâm nếu có những biểu hiện như kêu gọi phản động, rối loạn tâm thần, trầm uất và gây mâu thuẫn.

Hãy đọc 13 khác biệt giữa TINBIẾT và bạn sẽ biết Inner Space không là một tôn giáo.

#1 Đặc & Lỏng

Người tin có xu hướng là ĐẶC, còn người biết, biết mình không biết, là LỎNG. Người tin có bộ tư duy cố định và hẹp ở phạm vi niềm tin của họ. Họ bị mắc kẹt và trở nên thô đặc quanh những niềm tin.

Người biết dễ lượn và lỏng. Họ nhận ra biết cũng có nhiều mức độ và chiều sâu chưa thể thấu suốt. Họ được chuẩn bị buông rơi điều họ biết lúc này và chào đón dòng chảy sâu hơn của “biết” vào nhận thức họ.

Ví dụ thực tế:

Người tin đã quen thuộc với một cách nấu cơm. Họ khăng khăng cho rằng cách nấu của họ là “tốt nhất”. Người biết nói rằng có nhiều cách nấu cơm. Họ biết mình chưa thể biết hết và sẵn sàng học hỏi. Do vậy, họ “biết” nhiều hơn.

đặc và lỏng

#2 Bảo thủ & Cởi mở

Người tinBẢO THỦ trong khung niềm tin của họ. Ý thức họ như bị gói bằng giấy gói niềm tin, sau đó trở thành tấm mền thoải mái. Họ sẽ khóc thét nếu bạn lấy mất tấm mền của họ. Họ mãi lo lắng ai đó có thể dời nó đi mất và niềm tin của những người khác có thể đúng hơn và chính xác hơn.

Người biết biết rằng họ không biết hết, do vậy, cởi mở và sẵn lòng chào đón những niềm tin và ý kiến khác. Họ tò mò và tìm hiểu, vì thế, hiểu rộng và nâng cao nhận thức của họ.

Ví dụ thực tế:

Người tin khẳng định đây là đường về nhà nhanh nhất. Người biết bảo rằng có nhiều đường về nhà và về nhanh hay không còn tùy thuộc vào tình hình giao thông hôm đó. Họ cởi mở tìm hiểu.

bảo thủ và cởi mở

#3 Gắn kết & Không gắn kết

Người tin GẮN KẾT với niềm tin của họ đến mức vô thức định dạng bản thân qua nó. Người sùng đạo (không phải tất cả) dễ dàng vướng mắt vào kiểu định dạng này. Họ lấy thông tin từ kinh sách, định hình phiên bản niềm tin của riêng họ. Sau đó, tạo niềm tin “tôi là một người thiên chúa giáo” hay “tôi là một người ấn giáo – hindu” hay “tôi là một phật tử”

Họ tạo ra một nhân dạng tôn giáo. Họ đồng hóa họ với một ý tưởng, với một niềm tin. Họ chưa nhận ra bản thân, bản thể ý thức, “tôi” nói “tôi là”, không là một ý tưởng hay niềm tin. Bản thân sáng tạo niềm tin. Người sáng tạo không là sự sáng tạo hay tạo vật. Điều này là khó tiếp nhận đối với người tin vào tôn giáo bởi họ chưa từng nghĩ đến sự chính xác của nó.

Người biết, biết mình không biết, không gắn kết với bất cứ ý tưởng, khái niệm hay niềm tin nào. Họ biết họ không là một niềm tin hay hệ thống niềm tin. Họ biết mọi nhân dạng khác đều không phải là họ, ngay cả những ghi chép trong kinh sách vẫn có thể sáng tạo một cái tôi, nghĩa là, ảo tưởng về việc họ là ai. Họ biết cái tôi này khiến họ tạo mâu thuẫn với người của tôn giáo khác, do vậy, khổ đau theo nhiều cách.

gắng kết

#4 Phòng thủ & Tiếp nhận

Người tin có xu hướng PHÒNG THỦ và/ hoặc hung hăng (cũng là dạng phòng vệ) khi thấy niềm tin của họ bị đe dọa. Họ mù quáng tin rằng niềm tin của họ là “chân lí” và họ tin “tôi có chân lí” còn bạn thì không. Điều này nằm ở tâm của tất cả mâu thuẫn tôn giáo và thực tế là nguyên nhân gây tranh cãi ở mọi bối cảnh.

Người biết không một mực bảo rằng niềm tin nào đó là đúng. Họ nhận biết chân lí là trạng thái tồn tại cá nhân, là duy nhất với mỗi người và không thể tóm bắt bằng ngôn từ hay biểu tượng vật chất nào.

Họ biết chân lí không là một khái niệm hay sự vật hiện tượng. Họ biết chân lí không cần được phòng vệ hay bảo vệ. Nhưng người tin thường có xu hướng phòng vệ và vô thức tự làm mình đau khổ ở những lúc như thế.

Ví dụ thực tế:

Hầu hết các phòng trào phản kháng trong xã hội nói chung và ở các đấu trường chính trị, môi trường nói riêng, đều dựa vào nhóm người tin rằng họ biết chân lí. Họ tin họ phải chiến đấu với những người phản bác rằng họ không biết chân lí để tái lập lại chân lí.

Thay vì đối thoại, xây dựng mối quan hệ và tìm hiểu lẫn nhau, thì một bên cố áp đặt niềm tin của họ lên bên kia. Kết quả…?

Là sự chia rẽ và hai nhóm người tin mâu thuẫn và khổ sở vì ảo tưởng “chúng tôi biết hơn” mà không nhận thức “biết hơn” là gì.

từ chối và chấp nhận

#5 Lý tưởng hóa & Hiện thực hóa

Người tinLÝ TƯỞNG HÓA. Cốt lõi niềm tin của họ là những ý tưởng rằng sự việc “nên là” và người khác “nên như” thế nào trong thế giới của họ… Lý tưởng hóa khiến họ dành nhiều thời gian và năng lượng để hiện thực hóa. Kết quả là họ thường tự làm mình thất vọng và tức giận. Nhiều người dựa trên điều này để lí giải cho “sự tiến hóa hoài nghi” và đôi khi được định nghĩa là nhà lý tưởng thất vọng.

Người biếtNGƯỜI HIỆN THỰC. Họ nhận thức mọi ý tưởng và khái niệm chưa là gì ngoài bản thân nó. Nó chưa là cơ sở cho “hiện thực” vốn thay đổi. Họ không bị áp đặt mà biết mọi thứ chỉ là chính nó ở bất cứ lúc nào và họ hướng tới hiện thực của mỗi giây. Áp đặt niềm tin hay ý tưởng của mình cho một ai đó đều là cao ngạo và tầm phào đối với người biết, biết mình không biết.

lý tưởng hóa và hiện thực hóa

#6 Tìm sự chuẩn nhận & Tìm sự khai sáng

Người tin vô thức và ý thức tìm sự xác nhận và CHUẨN NHẬN cho niềm tin của họ, thường tưởng lầm cho bản thân, do vậy, cảm thấy bất an ở mức nào đó.

Người biết không tìm sự chuẩn nhận cho bất cứ niềm tin nào. Họ biết điều họ biết và họ biết luôn có gì đó để học hỏi. Họ có khả năng biết điều họ chưa biết. Với họ, tiến trình tìm hiểu điều thật và đúng là vô cùng tận và sâu sắc.

Họ luôn khám phá và học hỏi chiều sâu trong ý thức họ. Họ không cần được chuẩn nhận vì họ không bảo thủ trong quan điểm hay hiểu biết của họ.

khai sáng

#7 Không quá trung thực & Trung thực thỏa đáng

Người tin có xu hướng bất hạnh thường xuyên vì không trung thực. Họ dùng niềm tin đàn áp nghi ngờ. Họ hồi hộp trong lo âu. Họ nói “tôi biết”, nhưng thực tế, họ chỉ tin. Họ không thể nói “tôi không biết” hoặc họ vô thức trong không biết.

Người biết thành thật hơn với bản thân rằng họ không biết hết. Họ không mang bộ mặt của biết nhằm che đậy sự nghi ngờ đi kèm với niềm tin. Họ không đàn áp gì vì quá tò mò và muốn biết chân lí và hiểu biết hơn.

trung thực

#8 Phản ứng cảm xúc & Hồi đáp sáng tạo

Người tin thường xúc cảm do gắn với niềm tin. Con đẻ của sự gắn kết là cảm xúc như: Sợ hãi, buồn chán hoặc tức giận. Sợ mất khi ai đó phát giác niềm tin của họ là giả. Buồn chán khi bị cho là niềm tin thiếu cơ sở và tức giận thủ phạm hay sự việc đã phát giác niềm tin của họ là không đúng hay không chính xác.

Người biết hiếm khi xúc cảm vì đã thôi gắn kết với các ý tưởng, khái niệm và niềm tin. Họ biết bám thế bảo thủ là không lành mạnh. Trong họ không còn “bị bẫy” vào niềm tin hay hệ thống niềm tin nào và trái tim họ đã tự do.

Do đó, họ cảm thụ và ứng dụng sự thông thái trực giác từ trong mà không bị tiếng ồn cảm xúc xen vào. Họ khiêm tốn tiếp nhận các quan điểm khác, đổi lại, họ mạnh mẽ trong quá trình sáng tạo cách hồi đáp thông minh, rõ ràng và thích hợp nhất cho mọi tình huống và con người trong cuộc sống của họ.

phản hồi

#9 Chắc chắn giả & Nghi ngờ thật

Người tin thường có thái độ bị ép của sự CHẮC CHẮN, cũng được ngụy trang để đàn áp sự nghi ngờ của họ. Người biết, biết mình không biết, cho phép mình nghi ngờ dưới ánh sáng rõ tỏ bên trong ý thức khi họ tìm hiểu và khám phá bản thân ở chiều sâu hơn và thật hơn.

Người biết ý thức về sự không chắc chắn của họ nhằm thấy và biết rõ hơn. Điều nghịch lý này làm mạnh khả năng truy cập sự thông thái sâu hơn ở họ khi họ phải ra quyết định kịch tính hoặc đưa ra lời khuyên cho người khác.

chắc chắn

#10 Ghi nhớ cho TÂM TRÍ & Trực giác cho TRÍ TUỆ

Niềm tin được gia cố trong ký ức, sẽ định hình nhận thức và phát ra suy nghĩ trong tâm trí. Khi bạn vừa kích hoạt từ niềm tin, bạn sẽ không thể hoàn toàn “cảm thụ về mặt trực giác” và nghe được sự thông thái của trực giác. Hãy đi vào nó và xem bạn có thể nhìn ra cho bản thân hay không. Ngôn từ chỉ là biển báo, nhớ không?

Đây là lí do hầu hết mọi người hay phản ứng. Ta để “chương trình niềm tin” được tiếp nhận từ người khác và được cài đặt trong ý thức mình nhằm phát ra phản ứng với con người và cuộc đời. Khi bạn giải thoát bản thân khỏi những niềm tin, khỏi chương trình, bạn mới bắt đầu hồi đáp từ trái tim, không phải từ cảm xúc. Cảm xúc không phát ra từ trái tim mà đến như một hệ lụy gắn kết của bạn với thứ gì hay ai đó trong tâm trí bạn. Bạn có thể nhìn ra không?

Người biết biết được điều này, nên chủ động dành thời gian thiền, chiêm nghiệm để vượt khỏi niềm tin đã được gia cố trong ký ức họ. Họ đi vào nơi sâu hơn bên trong họ, đến tâm của sự tồn tại (không phải cơ thể của họ). Từ đó, họ có thể cảm thụ và nghe “giọng nói tinh túy của trái tim”, đó là giọng nói đánh thức và làm mạnh trí tuệ.

trí tuê

#11 Nói & Im lặng

Người tin thường nói nhiều về niềm tin của họ. Tiềm thức thôi thúc họ chứng minh niềm tin của họ là thật. Họ muốn người khác tin là họ biết. Họ cố áp đặt niềm tin của họ từ nhu cầu thống trị, sau đó thu thập sự hỗ trợ của người khác để nói được “thấy chưa, anh ấy đang cùng tôi. Hẳn điều tôi nói là đúng, nên anh ấy mới đồng ý”.

Người biết nói ít. Họ biết họ vừa mới nói, thì bạn chưa thể làm được liền. Điều này cũng nói lên chân lí trong lời nói của họ. Có câu nói cổ “người nói không biết trong khi người biết không nói” là vậy.

im lặng

#12 Lòng tin mù quáng & Lòng tin khái sáng

Người tin và người biết đều có “lòng tin”, nhưng nguồn gốc lòng tin là khác. Lòng tin của người tin dựa dẫm vào “niềm tin vô căn cứ”. Bạn có thể bị hấp dẫn bởi một nguồn bên ngoài nào đó như sách hoặc nhóm triết lý. Người tin bảo rằng bằng chứng là từ ngoài vào trong, từ lời nói hay niềm tin của người khác.

Lòng tin của người biết là từ trong, dựa vào sự tin cậy từ cảm thụ trực giác. Dẫu cảm thụ này là tinh túy, nhưng nghe được, họ có thể tự nhận thức điều gì là thật hơn. Họ thấy rằng “cái biết” của họ tự tinh chỉnh theo thời gian và không bao giờ bị gia cố. Họ là người lắng nghe tốt, luôn cởi mở nghe người khác cũng như giọng nói nội tâm trong hồi đáp với người khác.

Họ liên tục vun trồng nhận thức và luôn nhận sự tư vấn từ trực giác. Họ biết họ đang trong tiến trình khai sáng. Lòng tin càng lớn theo tiến trình, thì sự khai sáng của họ càng thật và thực xảy ra. Rốt cuộc từ lòng tin là dự phòng và được thay thế bằng một “sự hiểu biết thầm lặng”.

khai sáng

#13 Giới hạn & Vô hạn

Ta thường nghe và đọc về khả năng loại bỏ niềm tin giới hạn của bạn. Các buổi hội thảo, chuyên đề và sách thường hứa hẹn như vậy. Người biết biết rằng, qua định nghĩa, tất cả niềm tin đều là giới hạn. Đơn giản vì nó là ý tưởng đóng, cố định và thô đặc, được làm thành “sự việc” và được giữ chặt trong ý thức đến độ tự thân ý thức “bị lạc” hoặc “bị định dạng” bằng ý tưởng/ khái niệm đó…

Người biết đã nhận thức tự ý thức trong trạng thái tự nhiên nhất, là lỏng, mở, linh hoạt và không gắn kết với sự vật/ý tưởng hay khái niệm nào. Đây cũng là sự vô hạn của bản thân. Trạng thái vô hạn và mở là một đặc tính ý thức hiện hữu và theo trực giác. Chính sự giới hạn của niềm tin cản đường nhận thức và biết bản chất thực của tâm hồn là vô hạn.

Niềm tin bước vào và tự nó đã là giới hạn, được ta sử dụng để bó hẹp bản thân. Nhận thức “vượt khỏi niềm tin” là khi người biết biết thực tại của điều vô hạn nhất.

vô hạn

Nếu nhận thức và suy nghĩ của bạn là không rõ ràng, tại sao không viết ra một đoạn “tự thoại” về niềm tin và biết. Bạn có thể thấy khi lắng nghe bản thân, bạn sẽ bắt đầu nhận ra điều bạn biết, nhưng không biết mình biết.

Nếu bạn đã sẵn sàng hãy để lại comment phía dưới nhé

Bạn nghĩ gì về bài viết này

avatar
  Đăng ký nhận thông báo  
Khi có